Showing posts with label R. Show all posts
Showing posts with label R. Show all posts

Jul 17, 2009

Robert Koch

Robert Koch

Nguon: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Heinrich Hermann Robert Koch (11 tháng 12, 1843 – 27 tháng 5, 1910) là một bác sĩ và nhà sinh học người Đức. Ông nổi tiếng như một người đã tìm ra trực khuẩn bệnh than (1877), trực khuẩn lao (1882) và vi khuẩn bệnh tả (1883) đồng thời là người đã phát biểu nguyên tắc Koch. Ông đã được trao giải Nobel dành cho Sinh lý và Y học cho các công trình về bệnh lao vào năm 1905. Ông cũng được coi là một trong số những người đặt nền móng cho vi khuẩn học. Tiểu sử Robert Koch sinh vào ngày 11 tháng 12 năm 1843 tại Clausthal, trên núi Upper Harz, Đức. Là con trai của một người kĩ sư mỏ, ông làm bố mẹ phải kinh ngạc khi nói với họ rằng ông đã tự học đọc bằng một tờ báo. Đó là dấu ấn đầu tiên về sự thông minh và tính kiên trì về mặt phương pháp – những đức tính đã theo ông trong suốt cuộc đời sau này. Ông học ở một trường cấp 3 địa phương (trường Gymnasium). Ở đó ông đã thể hiện mối quan tâm tới sinh học, và cũng như bố, ham muốn mạnh mẽ đi du lịch khám phá. Năm 1862, Koch tới Đại học Göttingen để học y khoa. Tại đây, Koch bị ảnh hưởng bởi tư tưởng của giáo sư môn giải phẫu học là Friedrich Gustav Jakob Henle về bệnh truyền nhiễm là do những loài sinh vật sống kí sinh (luận điểm này đã được xuất bản vào năm 1840). Sau khi lấy bằng bác sĩ vào năm 1866, Koch tới Berlin sáu tháng để học hoá học dưới sự dẫn dắt của Virchow. Cùng năm, Koch cưới Emmy Fraats. Bà đã sinh cho ông một người con gái duy nhất là Gertrud (sinh năm 1865), người mà sau này trở thành vợ của tiến sĩ E. Pfuhl. Năm 1867, ông bắt đầu ổn định cuộc sống sau thời gian thực tập, đầu tiên ở Langenhagen và không lâu sau đó, năm 1869, ở Rackwitz, tỉnh Posen. Ở đây ông đã vượt qua kì thi nhân viên ngành y của tỉnh. Năm 1870, ông tham gia tình nguyện phục vụ trong cuộc Chiến tranh Pháp – Phổ và từ năm 1872 tới 1880 là nhân viên ngành y của tỉnh Wollstein. Cũng chính ở đây, ông đã thực hiện những nghiên cứu bước ngoặt, những nghiên cứu đã đưa ông lên vị trí cao trong giới khoa học. Bệnh than vào thời đó đang xuất hiện trong các trang trại chăn nuôi ở tỉnh Wollstein và Koch, mặc dù không có công cụ nghiên cứu khoa học nào và còn bị tách biệt với thư viện và giới khoa học, đã lao vào nghiên cứu bệnh này bất chấp sức ép từ công việc bận rộn của ông. Phòng thí nghiệm của ông là căn nhà 4 phòng và cũng chính là nhà ông, còn dụng cụ nghiên cứu của ông, ngoài cái kính hiển vi vợ ông tặng, đều do ông tự trang bị. Trước đó thì trực khuẩn than đã được tìm ra bởi Pollender, Rayer và Davaine; và Koch đặt ra mục tiêu là chứng minh loài trực khuẩn này chính là tác nhân gây bệnh than. Ông cấy vào chuột, bằng miếng gỗ tự chế, trực khuẩn than lấy từ lá lách của những động vật trong nông trại đã bị chết bởi bệnh than, và thấy rằng những con chuột này bị chết bởi trực khuẩn. Trong khi cùng lúc những con chuột được cấy bằng máu từ lách của những con vật nuôi khoẻ mạnh thì không bị mắc bệnh than. Điều này củng cố cho những nghiên cứu khác đã chứng minh rằng bệnh này có thể lây qua đường máu từ những con vật đã bị bệnh. Nhưng điều đó chưa thoả mãn Koch. Ông còn muốn biết những con trực khuẩn than chưa bao giờ phát triển trong động vật thì có khả năng gây bệnh hay không. Để giả quyết vấn đề này, ông đã triết xuất pure culture của trực khuẩn bằng cách nuôi cấy chúng trong dịch lấy từ mắt bò. Bằng cách nghiên cứu, vẽ và chụp hình lại những môi trường nuôi cấy này, Koch đã ghi lại sự nhân lên của trực khuẩn và nhận thấy rằng điều kiện nuôi cấy không thích hợp với chúng, chúng đã tạo ra bào tử (spore) bên trong chúng để chống lại điều kiện bất lợi đặc biệt là thiếu ôxy, và khi điều kiện thuận lợi trở lại, bào tử có thể trở lại thành trực khuẩn. Koch nuôi trực khuẩn qua vài thế hệ trong pure culture và chỉ ra rằng cả khi chúng không hề lớn lên trong động vật thì chúng vẫn có khả năng gây bệnh than. Kết quả của công việc lao khổ này đã được Koch trình bày cho Ferdinand Cohn, giáo sư thực vật học ở Đại học Breslau, người đã tổ chức một cuộc họp cùng với những đồng nghiệp của mình cùng làm chứng cho sự trình bày của Koch trong số đó có giáo sư Cohnheim, giáo sư về giải phẫu bệnh học. Cả Cohn và Cohnheim đều bị ấn tượng bởi công trình của Koch và khi Cohn, vào năm 1876, xuất bản công trình của Koch trong một tờ báo của ngành thực vật học mà ông làm biên tập viên thì Koch đã lập tức trở nên nổi tiếng. Tuy nhiên ông vẫn tiếp tục làm việc ở Wollstein 4 năm sau đó và trong thời gian đó đã tiến bộ hơn nhiều trong kĩ năng cố định, nhuộm và chụp hình vi khuẩn đồng thời nghiên cứu thêm một số công trình quan trọng nữa về bệnh gây ra bởi vi khuẩn trong các vết thương, và xuất bản công trình vào năm 1878. Trong những công trình này ông đã nêu lên, cũng như những gì ông đã làm với bệnh than, bản chất khoa học và thực nghiệm cho cách kiểm soát những bệnh truyền nhiễm đó. Tuy nhiên Koch vẫn còn thiếu điều kiện cho công việc của ông và phải tới năm 1880, khi ông được bổ nhiệm làm thành viên của Reichs-Gesundheitsamt (Cục Y tế Hoàng gia) ở Berlin, thì ông mới được cung cấp đầu tiên là một phòng hẹp, thiếu thốn nhưng sau đó là một phòng thí nghiệm đầy đủ hơn, trong đó ông đã làm việc với các phụ tá là Loeffler, Gaffky và những người khác. Ở đây, Koch tiếp tục hoàn thiện phương pháp nghiên cứu vi khuẩn mà ông đã dùng ở Wollstein. Ông phát minh ra phương pháp mới Reinkulturen – cấy pure culture của vi khuẩn vào môi trường nuôi cấy rắn như khoai tây, hay thạch đựng trong một loại đĩa đặc biệt phát minh bởi đồng nghiệp của ông là Julius Richard Petri, mà tới nay nó vẫn được sử dụng phổ biến. Ông cũng phát minh ra một phương pháp nhuộm vi khuẩn mới làm chúng dễ nhìn hơn và giúp xác minh chúng. Kết quả của những công trình này là sự mở đầu cho phương pháp nghiên cứu vi khuẩn gây bệnh trong đó vi khuẩn có thể dễ dàng tách ra trong pure culture, không nằm trong cơ thể sinh vật và vì vậy chúng có thể được xác định. Koch cũng đặt ra tiêu chuẩn, được biết đến như nguyên tắc Koch (Koch's postulate). Để chấp nhận một vi khuẩn nào đó là nguyên nhân gây ra một bệnh nhất định hay không thì tất cả tiêu chuẩn của "nguyên tắc Koch" cần được thoả mãn. Hai năm sau khi tới Berlin, Koch phát hiện ra trực khuẩn lao và phương pháp nuôi cấy nó trên pure culture. Năm 1882, ông xuất bản công trình kinh điển của ông về trực khuẩn. Ông vẫn tiếp tục bận rộn nghiên cứu cho tới khi ông được cử tới Ai Cập vào năm 1883 với vai trò Chủ tịch Uỷ ban về bệnh tả của Đức, để điều tra về dịch tả đang bùng phát ở đó. Ở đây ông đã phát hiện ra vi khuẩn vibrio là nguyên nhân gây bệnh tả và mang được pure culture của vi khuẩn này về Đức. Ông cũng nghiên cứu cả vi khuẩn tả ở Ấn Độ. Trên cơ sở những kiến thức của ông về đặc điểm sinh học và sự phân bố của vi khuẩn tả, Koch đã hệ thống hoá nguyên tắc để kiểm soát dịch tả và điều đó đã được chấp thuận bởi Quyền tối cao ở Dresden vào năm 1893 và nó đã trở thành nền móng cho việc kiểm soát dịch tả ngày nay. Công trình của ông về bệnh tả đã được nhận giải thưởng 100 ngàn mark Đức đồng thời cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc có kế hoạch bảo vệ nguồn nước sinh hoạt. Năm 1885, Koch được phong Giáo sư về vệ sinh học của Đại học Berlin và Giám đốc của Viện vệ sinh mới được thành lập lúc đó tại trường này. Năm 1890 ông được phong thượng tướng và người có đặc quyền (Freeman) của thành phố Berlin. Năm 1891 ông trở thành Giáo sư Danh dự của khoa Y ở Berlin và Giám đốc Viện các bệnh truyền nhiễm, nơi ông đã may mắn gặp được những đồng nghiệp như Ehrlich, von Behring và Kitasato, cũng là những nhà phát minh nổi tiếng. Năm 1893, Koch cưới người vợ thứ hai là Hedwig Freiberg. Trong thời gian này, Koch quay lại với những nghiên cứu về bệnh lao. Ông cố gắng hãm lại quá trình phát triển bệnh bằng chất mà ông gọi là tuberculin, được làm từ môi trường nuôi cấy trực khuẩn lao. Ông chuẩn bị các mẫu tuberculin, mới và cũ, và sự thông báo về mẫu tuberculin cũ đã gây rất nhiều tranh cãi. Khả năng chữa trị của chất này theo như những gì Koch tuyên bố là một sự thổi phồng, và bởi vì hi vọng từ nó không được thoả mãn, dư luận quay ra chống lại nó và chống lại Koch. Chất tuberculin mới được Koch công bố vào năm 1896 và khả năng chữa trị của nó cũng làm thất vọng mọi người; nhưng nó đã dẫn tới sự phát hiện của một chất có giá trị về mặt chẩn đoán. Trong khi công trình về tuberculin vẫn tiếp tục, đồng nghiệp của ông ở Viện về các bệnh truyền nhiễm là von Behring, Ehrlich và Kitasato nghiên cứu và xuất bản công trình mang tính bước ngoặt của họ về sự miễn dịch của bệnh bạch hầu. Năm 1896, Koch tới Nam Phi để nghiên cứu nguyên nhân của bệnh dịch virut Rinde (rinderpest) và mặc dù ông không tìm được nguyên nhân, ông cũng đã thành công trong việc hạn chế sự bùng phát của bệnh dịch bằng cách tiêm cho những con gia súc khoẻ mạnh mật lấy từ túi mật của những con đã bị bệnh. Rồi sau đó là các nghiên cứu ở Ấn Độ và châu Phi về sốt rét, sốt rét tiểu đen (blackwater fever), bệnh xura (surra) ở gia súc, ngựa và bệnh dịch hạch và xuất bản những quan sát của ông về các bệnh này vào năm 1898. Không lâu sau khi quay lại Đức, ông lại được cử tới Ý và vùng nhiệt đới nơi ông xác nhận công trình của Ronald Ross về sốt rét và làm được một số công việc có ích trong nghiên cứu về nguyên nhân của các dạng khác nhau của sốt rét và việc kiểm soát nó bằng thuốc kí ninh. Trong những năm cuối của cuộc đời, Koch đi tới kết luận là trực khuẩn gây bệnh lao ở người và bò là khác nhau và tuyên bố của ông về điều này tại Hội nghị Y học quốc tế về Lao ở Luân Đôn năm 1901 đã gây ra nhiều tranh cãi, nhưng bây giờ thì quan điểm đấy của ông đã được công nhận là đúng. Công trình nghiên cứu của ông về bệnh sốt Rickettsia đã dẫn đến ý tưởng mới, rằng căn bệnh này được truyền dễ dàng từ người sang người hơn là từ nước uống, và vì thế dẫn đến phương pháp kiểm soát bệnh mới.

Tháng 12 năm 1904, Koch được cử tới vùng Đông Phi của người Đức để nghiên cứu bệnh sốt ở Bờ Biển Đông trên gia súc và ông đã tiến hành những quan sát quan trọng, không chỉ với dịch bệnh này mà còn với những loài gây bệnh Babesia và Trypanosome và bệnh xoắn khuẩn spirochaet có nguồn gốc lây truyền qua ve, bọ; và tiếp tục công việc của ông trên những sinh vật này khi ông trở về nhà.

Koch là người đã nhận rất nhiều giải thưởng và huân chương, học vị tiến sĩ danh dự của Đại học Heidelberg và Bologna, công dân danh dự của thành phố Berlin, Wollstein và quê hương ông Clausthal, thành viên danh dự của giới khoa học hàn lâm ở Berlin, Wien, Posen, Perugia, Napoli và New York. Ông cũng được huân chương danh dự Đức (German Order of the Crown), Bắc đẩu bội tinh của German Order of the Red Eagle (lần đầu tiên giải thưởng cao quí này được trao cho một người trong ngành Y) và huân chương của Nga và Thổ Nhĩ Kỳ. Rất lâu sau khi ông mất, ông còn được ghi công bằng tượng đài kỉ niệm và nhiều hình thức khác ở một số nước.

Năm 1905, ông nhận được giải thưởng Nobel dành cho Sinh lý và Y học. Năm 1906, ông quay lại Trung Phi để nghiên cứu về việc kiểm soát bệnh trùng mũi khoan (trypanosomiasis), và ở đó ông đã báo cáo rằng atoxyl có tác dụng chống lại bệnh này giống như thuốc kí ninh đối với sốt rét. Sau đó Koch tiếp tục công việc thực nghiệm về vi khuẩn học và huyết thanh học.

Bác sĩ Koch mất ngày 27 tháng 5 năm 1910 tại Baden-Baden

»»  read more

Rita Levi-Montalcini

Rita Levi-Montalcini - nhà khoa học 100 tuổi và khám phá yếu tố phát triển tế bào thần kinh

Bài từ Tủ sách Khoa học VLOS.

  • Currently 5.00/5

Bài viết xuất sắc: 5.0/5 (1 vote)

Jump to: navigation, search
Nhân sinh nhật thứ 100 của Rita Levi-Montalcini - Nobel Y học năm 1986

Cách đây đúng 100 năm, ngày 22 tháng 4 năm 1909, Rita Levi-Montalcini được sinh tại thành phố Turin (Italia) cùng người chị em sinh đôi, Paola, trong một gia đình do thái. Bố của Levi-Montalcini là kỹ sư điện còn mẹ là họa sỹ. Anh của bà, ông Gino, khi còn sống là giáo sư đại học Turin và là kiến trúc sư nổi tiếng tại Ý. Tuy vậy Levi-Montalcini đã từng có ý định trở thành nhà văn do chịu ảnh hưởng của chị gái, một người mê văn chương và ngưỡng mộ nữ nhà văn Selma Lagerlöf.

Bố của Levi-Montalcini, một người yêu gia đình và sống cho gia đình, tôn trọng phụ nữ nhưng lại nghĩ rằng đối với phụ nữ, công việc chuyên môn sẽ không dung hòa được với bổn phận của một người vợ, người mẹ. Chính vì vậy ông đã quyết định không để những cô con gái của mình học đại học.

Paola có năng khiếu hội họa và được bố cho phép dành tất cả thời gian cho niềm đam mê này. Lớn lên bà đã trở thành một trong những họa sỹ nổi tiếng nhất tại Ý. Levi-Montalcini tự nhận thấy không thể theo những suy nghĩ và quyết định của bố và đã xin phép cha được theo đuổi con đường học hành, nghiên cứu. Chỉ trong 8 tháng bà hoàn thành chương trình các môn học tiếng Latinh, tiếng Hy Lạp, và toán rồi tốt nghiệp trung học phổ thông để vào học đại học y khoa tại Turin. Tại đây bà trở thành bạn và sau này là đồng nghiệp của Salvador Luria và Renato Dulbecco, cả ba lần lượt nhận giải thưởng Nobel về Y học - sinh lý học vào các năm 1969 (Salvador Luria), 1975(Renato Dulbecco) và 1986 (Levi-Montalcini). Cả ba nhà khoa học đều là học trò và chịu nhiều ảnh hưởng từ giáo sư Giuseppe Levi giảng dạy và nghiên cứu mô học tại ĐH Turin.

Năm 1936, Levi-Montalcini tốt nghiệp xuất sắc chuyên ngành y học và ngoại khoa và bắt đầu nghiên cứu chuyên khoa thần kinh và bệnh học thần kinh 3 năm.

Cũng vào năm 1936, Mussolini áp dụng chính sách hạn chế và cấm đoán tư tưởng và công việc của những nhà khoa học gốc do thái. Vào dịp đó, sau một thời gian làm việc ở một viện thần kinh học tại Bruxen (Bỉ), Levi-Montalcini trở về Turin với gia đình khi Đức tấn công Bruxen. Trong tình hình chính trị và cuộc sống không ổn định lúc bấy giờ gia đình bà đứng trước hai lựa chọn hoặc sang Mỹ hoặc ở lại Ý . Cuối cùng, do lựa chọn thứ hai, cả gia đình tiếp tục sống tại Turin. Tại đây, vì không được làm việc trong trường đại học hay viện nghiên cứu, bà đã quyết định xây dựng nơi nghiên cứu riêng của mình. Phòng thí nghiệm cũng chính là phòng ngủ của bà.

Năm 1934 bài báo của Viktor Hamburger nghiên cứu thần kinh trên phôi gia cầm đã gây ấn tượng cho Levi-Montalcini. Với sự trợ giúp của Giuseppe Levi, trợ lý đầu tiên, duy nhất và là niềm hãnh diện của bà cũng trở về từ Bruxen, bà bắt đầu các công trình nghiên cứu độc lập đầu tiên về thần kinh học.

Năm 1941, quân đồng minh Anh-Mỹ tăng cường ném bom tại Turin và gia đình bà phải sơ tán về vùng nông thôn. Tại đây bà đã xây dựng lại phòng thí nghiệm của mình. Mùa thu năm 1943, sau khi Đức tấn công Ý, gia đình bà chạy về Florence và gần như không có cuộc sống tự do cho đến khi chiến tranh thế thới thứ hai kết thúc.

Mặc dù phải đối mặt với chiến tranh và tâm lý bài xích người do thái, hàng ngày bà vẫn liên lạc với những người bạn thân và đồng nghiệp. Tháng 8 năm 1944 khi Đức buộc phải rút khỏi Florence, bà được tuyển vào làm bác sỹ tại trại tỵ nạn của đồng minh Anh-Mỹ. Tại đó bà đã đối diện với những nguy hiểm của dịch bệnh, đặc biệt là thương hàn - những thứ bệnh hàng ngày cướp đi mạng sống của nhiều người trong trại tị nạn - những người bà hàng ngày chăm sóc với vai trò của một bắc sỹ và một y tá.

Sau khi chiến tranh kết thúc tại Ý vào tháng 5 năm 1945, Levi-Montalcini cùng gia đình trở về Turin và vào làm việc tại trường đại học. Mùa thu năm 1947, giáo sư Viktor Hamburger đã mời bà cộng tác. Tại nơi làm việc của Viktor ở St. Louis, Levi-Montalcini đã tiến hành lại các thí nghiệm bà đã làm trước đó trên phôi gà. Trước đó bà dự định làm việc tại đây trong khoảng 10 tháng đến 1 năm nhưng những kết quả nghiên cứu đã giữ bà ở lại. Năm 1956 bà trở thành phó giáo sư và hai năm sau đó trở thành giáo sư và làm việc ở cương vị đó đến năm 1977. Năm 1962, Levi-Montalcini thành lập cơ sở nghiên cứu tại Rome và từ đó bà di chuyển và làm việc giữa hai nơi Rome và St. Louis. Từ năm 1969 đến 1978 bà là giám đốc Viện sinh học tế bào thuộc hội đồng nghiên cứu quốc gia Ý. Sau khi về hưu (1979) Levi-Montalcini tiếp tục được mời làm việc với cương vị giáo sư tại đây.

Năm 1968, giải thưởng Nobel thuộc lĩnh vực Y học - sinh lý học đã được trao cho hai nhà khoa học và Rita Levi-Montalcini chính là một trong hai nhà khoa học được vinh danh đó. Yếu tố phát triển thần kinh (nerve growth factor) do Rita Levi-Montalcini tìm ra cùng với yếu tố phát triển thượng bì (epidermal growth factor), phát hiện bởi Stanley Cohen, nhà khoa học Mỹ đã giúp con người hiểu được cơ chế điều hòa quá trình sinh trưởng và biệt hóa của tế bào. Sau khi hai yếu tố này được làm sáng tỏ, hàng loạt các yếu tố phát triển, phân chia và biệt hóa khác của tế bào lần lượt được tìm ra. Có thể cho rằng Rita Levi-Montalcini và Stanley Cohen đã giúp mở cánh cửa một lĩnh vực mới cho các nghiên cứu cơ bản trong y sinh học, giúp chúng ta hiểu ngày một tường tận hơn về nhiều loại bệnh do sai lệch quá trình phát triển hay thoái hóa trong đó có quá trình hàn gắn vết thương, các khối u đồng thời là cơ sở cho những nghiên cứu cho ra đời các dược phẩm mới.

Ngày 1 tháng 8 năm 2001, Levi-Montalcini được tổng thống Ý, ông Carlo Azeglio Ciampi chỉ định là nghị sỹ trọn đời (Senatore a vita). Mặc dù phải đi khắp thế giới vì những hoạt động khoa học bà vẫn tham dự một cách tích cực với công việc của một nghị sỹ tại thượng viện. Sự ủng hộ giành cho bà từ những người đứng đầu chính phủ cũng là thành nguyên nhân của những chỉ trích từ phía cánh tả "giành" cho bà.

Ở tuổi 100, Levi-Montalcini là nhà khoa học được trao giải Nobel sống thọ nhất cho đến nay.


Nguyễn Bá Tiếp tổng hợp.

»»  read more
Loading
Chát & Gửi tin nhanh
Bài viết mới đăng

 
chào mừng bạn tới với nganling's Blog|Welcome to nganling's Blog |

Những Chuyên Mục Hot

sub link